|
|
|
Để quay lại với thói quen dùng tiền xu là rất khó. (Ảnh minh họa)
|
Tiền xu bị quay lưng vì có nhiều lý do nhưng theo TS Nguyễn Minh Phong, trưởng phòng Nghiên cứu Kinh tế, Viện Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội thì nguyên nhân quan trọng đó là chúng ta đã chưa xác định rõ mục đích sử dụng, thanh toán đặc thù mà đưa vào sử dụng chung trong hệ thống tiền tệ.
Phân tích kỹ hơn về điều này, TS Nguyễn Minh Phong cho biết: Không phải đến bây giờ, tiền xu mới xuất hiện tại Việt Nam mà chúng đã có từ rất lâu. Điều này cho thấy, rõ ràng trên thị trường có nhu cầu thật chứ không phải tự nhiên người ta "vẽ" ra loại tiền này.
Tuy nhiên, lý do mà tiền xu không được đón tiếp mặn mà phải kể đến bối cảnh nền kinh tế đang lạm phát, nhu cầu thanh toán đồng tiền có mệnh giá lớn là rất cao. Với giá thanh toán lớn, người dân sẽ rất bất tiện khi cầm tiền xu đi mua bán, giao dịch. Sự bất tiện thể hiện ở chỗ, tiền nặng, dễ bị đánh mất, lại khó bảo quản…Cần lưu ý, đặc điểm của người Việt là ưa sự thuận tiện nên những lý do trên đã không lấy lòng được người tiêu dùng.
Một đặc điểm lưu thông của người Việt khiến tiền xu khó chen chân vào hệ thống tiền tệ đó là cách tính làm tròn khi mua bán. Khi đó, với những mệnh giá cao như 1.000đ, 2.000đ, 5.000đ cùng loại giữa tiền xu và tiền giấy thì rõ ràng, tiền giấy thường được lựa chọn nhiều hơn. Chính vì vậy, kiến nghị của TS Nguyễn Minh Phong đó là không nên sản xuất tiền xu mệnh giá cao 1.000đ, 2.000đ, 5.000đ mà càng nhỏ càng tốt.
Một nhược điểm nữa cũng cần các nhà quản lý, phát hành tiền xu lưu tâm đó là việc kiểm kê loại tiền này rất khó khăn. Do bản chất của tiền xu là kim loại và hình dáng đặc biệt nên việc kiểm đếm trở thành nỗi khổ của những cán bộ thu ngân. Khó có thể kiếm được chiếc máy đếm tiền xu tại các cửa hàng bán lẻ trên thị trường, có chăng chỉ có ở các ngân hàng thương mại.
Tiền xu: Tương lai của dịch vụ thương mại tự động
Tuy nhiên, các yếu tố trên đều có thể khắc phục dần dần nhưng yếu tố quyết định đến việc hiện hữu của đồng tiền xu trên hệ thống lưu thông tiền tệ phải kể đến đó là mục đích thanh toán đặc thù. Điều này đã không được các nhà quản lý tính toán kỹ.
Việc đưa tiền xu vào máy bán hàng tự động cũng không thể tiến triển do có quá ít người dân sử dụng tiền xu. Dường như, việc lưu thông tiền xu của chúng ta mới chỉ dừng lại ở những mục đích mua bán thông thường, còn các dịch vụ thương mại tự động như bán hàng qua máy trả tiền trước. Điện thoại, nước giải khát, dịch vụ giặt là…là rất hiếm.
TS Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh, để đồng tiền xu thực sự thông dụng và trở nên có ích thì điều đầu tiên phải xác định rõ mục đích sử dụng đồng tiền xu: Như dùng làm kỷ niệm hay cho những hình thức thanh toán đặc bịêt. Khi xác định rõ mục tiêu thì mới xác định được những bước tiếp theo là phát triển hệ thống máy bán hàng tự động, các dịch vụ đi kèm tiện ích… Chỉ có như vậy, mới là cách kéo người tiêu dùng trở lại với đồng tiền xu.
Không tỏ ra mất niềm tin, TS Nguyễn Minh Phong rất lạc quan: Đồng tiền xu đã và đang thịnh hành tại Việt Nam từ những thập niên 80 và đang là xu hướng tiêu dùng của nhiều nước trên thế giới. Nhìn về tương lai thì tiền xu là hình thức tiền không thể thiếu, nhất là khi nước ta đang trên con đường mở cửa hội nhập, tiếp cận các công nghệ hiện đại mà thanh toán tự động là một điển hình. Mà loại hình thanh toán này lại không thể thiếu tiền xu. Chúng ta không thể cưỡng lại sự phát triển chung của thế giới, đó là sự phát triển tất yếu.
"Tâm lý người trả và người nhận đều chưa sẵn sàng Nhà TS xã hội học Trịnh Hòa Bình đã nhận định: "Tâm lý người trả và người nhận đều chưa sẵn sàng với việc sử dụng tiền xu" khi lý giải nguyên nhân vì sao tiền xu bị ghẻ lạnh.
Vì thế, không thể đổ lỗi cho ý thức tiêu dùng mà cần có sự vận hành đồng bộ của cả một hệ thống: từ phương thức thanh toán (máy móc), đến việc tính toán sự nhỏ gọn, tiện dụng...
Chẳng tội gì vác nợ vào thân
TS Trịnh Hòa Bình nhấn mạnh: Thật như đánh đố khi đốt đuốc cũng khó có thể tìm thấy một hệ thống máy bán hàng sử dụng tiền xu tại các trung tâm thương mại, bệnh viện, bưu điện... Sự thiếu đồng bộ này đã khiến người tiêu dùng cảm thấy phiền toái, không thoải mái.
Nhìn về quá khứ, có thể nhận thấy, đã từng có sự hiện diện của đồng 2 xu rất lâu, trong khi đó, hiện tại mệnh giá đồng tiền mất giá quá nhanh. Chính sự không ổn định này khiến đồng xu khó có chỗ đứng.
Một điểm nữa mà TS Trịnh Hòa Bình phân tích: Sự tiện dụng của đồng tiền đã không được tính đến. Nếu như trước đây, đồng xu có lỗ xâu để cho người đi chợ dễ dàng xâu chuỗi cầm mang đi thì nay, nó tròn vo lại không thiết kế túi riêng để đựng, rất dễ rơi vãi.
Bên cạnh đó, ngày trước, đồng tiền được đúc bằng nhôm rất bền và đó là kim loại có giá trị. Nay, đồng tiền xu được đúc bằng nguyên liệu kim loại rất nhanh gỉ và nặng. Sự cồng kềnh, kém tiện dụng này đã khiến người dân mất hứng với đồng tiền xu vì tâm lý: "Chẳng tội gì vác nợ vào thân" là tâm lý chung của nhiều người.
Quay lại với thói quen dùng tiền xu là rất khó
Phân tích dưới góc độ xã hội học, TS Trịnh Hòa Bình chỉ rõ: Đúng là không thể phủ nhận, đã là đồng tiền do nhà nước phát hành thì đó là tài sản Quốc gia. Đồng tiền chịu sự phân phối, sử dụng của người dân và họ phải có trách nhiệm với đồng tiền theo tinh thần của luật pháp.
Tuy nhiên, dưới góc độ thị trường, nhìn nhận đúng bản chất thì đồng tiền cũng là một thứ hàng hóa trao đổi. Đồng tiền không thể đứng ngoài quy luật cung cầu và trao đổi hàng hóa. Và đã đứng trong sự vận hành của thị trường thì nếu đáp ứng được người mua thì tồn tại còn không sẽ bị đào thải.
Khá cực đoan, TS Trịnh Hòa Bình nhận định: Để quay lại với thói quen dùng tiền xu là rất khó. Ông đề xuất, người sản xuất tiền cần tính toán đến việc chuyển đổi hình thức, tính năng của đồng tiền như: Kim loại sử dụng đúc tiền phải là kim loại nhẹ; tiền đúc phải mỏng, không tốn chỗ.
Đó là xét về khía cạnh công nghệ để đảm bảo sự tiện dụng. Còn xét về mặt tác động vào nhận thức của người sử dụng, TS Trịnh Hòa Bình cho rằng, không thể truyền thông, hô hào khẩu hiệu suông là phải dùng, phải nhận đồng tiền xu. Điều đó là không tưởng. Cần có những hỗ trợ về mặt ứng dụng, càng nhiều càng tốt như phát triển hệ thống bán hàng tự động trả tiền xu, tăng cường hình thức tiền để tạo thói quen sưu tập tiền của nhiều người...
Điều 29, khoản 3 luật Ngân hàng Nhà nước đã quy định: Nghiêm cấm việc
từ chối nhận, lưu hành tiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành trên lãnh
thổ Việt Nam. Như vậy, những ai từ chối tiêu dùng đồng tiền xu là trái
với quy định của nhà nước.
Lý do khiến tiền xu ở nhiều nước phát triển:
- Tiền xu là tiền giấy không có đồng thời hai mệnh giá tương đương, trừ
ở Mỹ (tờ một đô la giấy). Như vậy, khi trao đổi mua bán hàng hóa có
mệnh giá nhỏ, chỉ có cách phải dùng tiền xu.
- Tất cả các dịch vụ tự động hóa gần như 100% phải chi trả bằng tiền xu.
- Mãi lực của tiền xu và tuổi thọ mãi lực dài.
|
Một số dịch vụ thương mại tự động được manh nha nhưng chưa phổ cập:
- Dịch vụ điện thoại tiền xu: 1.000 máy điện thoại tiền xu (mỗi máy
trị giá hơn 3 triệu đồng) của Nhà máy thiết bị bưu điện (thuộc Tổng
Công ty Bưu chính Viễn Thông - VNPT) mặc dù đã được Bộ Bưu chính - Viễn
thông cấp phép triển khai dịch vụ điện thoại trả tiền xu từ lâu, nhưng
đến nay vẫn chỉ trong giai đoạn thử nghiệm. Bên cạnh đó, Công ty Dịch
vụ Viễn thông Sài Gòn (Saigon Postel) cũng đang triển khai dịch vụ này
nhưng cũng chỉ dừng ở mức thử nghiệm.
- Hoàng Anh T3, C.A.T, Perfetti Van Melle Việt Nam, EzVending…đã đầu
tư hàng chục tỷ đồng để triển khai dịch vụ điện thoại tiền xu và máy
bán hàng tự động. |
|
|
|
|
Ý Kiến Bạn Đọc
|
|
|
|
|
|
|